Tỉnh
Quảng Bình nằm ở Bắc Trung Bộ, Việt Nam, với diện tích
tự nhiên 8.065 km2, dân số năm 2008 có 857.818 người.
Vị trí địa lý:
• Điểm cực Bắc: 18005’ 12" vĩ độ Bắc
• Điểm cực Nam: 17005’ 02" vĩ độ Bắc
• Điểm cực Đông: 106059’ 37" kinh độ Đông
• Điểm cực Tây: 105036’ 55" kinh độ Đông
Tỉnh có bờ biển dài 116,04 km ở phía Đông và có chung biên
giới với Lào 201,87 km ở phía Tây, có cảng Hòn La, Quốc lộ I A và đường
Hồ Chí
Minh, đường sắt Bắc Nam, quốc lộ 12 và tỉnh lộ 20, 16 chạy từ Đông sang
Tây qua
cửa khẩu Quốc tế Cha Lo và một số cửa khẩu phụ khác nối liền với Nước
CHDCND
Lào.
Địa hình: Địa hình Quảng Bình hẹp và dốc từ
phía Tây sang phía Đông. 85% Tổng diện tích tự nhiên là đồi núi. Toàn bộ
diện
tích được chia thành vùng sinh thái cơ bản: Vùng núi cao, vùng đồi và
trung du,
vùng đồng bằng, vùng cát ven biển.
Khí hậu: Quảng Bình nằm ở vùng nhiệt đới gió
mùa và luôn bị tác động bởi khí hậu của phía Bắc và phía Nam và được
chia làm
hai mùa rõ rệt:
+ Mùa mưa từ tháng 9 đến tháng 3 năm sau. Lượng mưa
trung bình hàng năm 2.000 - 2.300mm/năm. Thời gian mưa tập trung vào các
tháng
9, 10 và 11.
+ Mùa khô từ tháng 4 đến tháng 8 với nhiệt độ trung
bình 24oC
- 25oC. Ba tháng có nhiệt độ cao nhất là tháng 6, 7 và 8.
Tài nguyên đất: Tài nguyên đất được chia thành hai
hệ chính: Đất phù sa ở vùng đồng bằng và hệ pheralit ở vùng đồi và núi
với 15
loại và các nhóm chính như sau: nhóm đất cát, đất phù sa và nhóm đất đỏ
vàng.
Trong đó nhóm đất đỏ vàng chiếm hơn 80% diện tích tự nhiên, chủ yếu ở
địa hình
đồi núi phía Tây, đất cát chiếm 5,9% và đất phù sa chiếm 2,8% diện tích.
Tài nguyên động, thực vật: Quảng Bình nằm trong khu vực đa
dạng sinh học Bắc Trường Sơn - nơi có khu hệ thực vật, động vật đa dạng,
độc đáo
với nhiều nguồn gen quý hiếm. Đặc trưng cho đa dạng sinh học ở Quảng
Bình là
vùng Karst Phong Nha - Kẻ Bàng.
Về động vật có: 493 loài, 67 loài thú, 48 loài bò
sát, 297 loài chim, 61 loài cá... có nhiều loài quý hiếm như Voọc Hà
Tĩnh, Gấu,
Hổ, Sao La, Mang Lớn, Gà Lôi lam đuôi trắng, Gà Lôi lam mào đen, Trĩ...
Về đa dạng thực vật: Với diện tích rừng 486.688 ha,
trong đó rừng tự nhiên 447.837 ha, rừng trồng 38.851ha, trong đó có
17.397 ha
rừng thông, diện tích không có rừng 146.386 ha. Thực vật ở Quảng Bình đa
dạng
về giống loài: có 138 họ, 401 chi, 640 loài khác nhau. Rừng Quảng Bình
có nhiều
loại gỗ quý như lim, gụ, mun, huỵnh, thông và nhiều loại mây tre, lâm
sản quý
khác. Quảng Bình là một trong những tỉnh có trữ lượng gỗ cao trong toàn
quốc. Hiện
nay trữ lượng gỗ là 31triệu m3.
Tài nguyên biển và ven biển: Quảng Bình có bờ biển dài 116,04 km
với 5 cửa sông, trong đó có hai cửa sông lớn, có cảng Nhật Lệ, cảng
Gianh, cảng
Hòn La, Vịnh Hòn La có diện tích mặt nước 4 km2, có độ sâu
trên 15
mét và xung quanh có các đảo che chắn: Hòn La, Hòn Cọ, Hòn Chùa có thể
cho phép
tàu 3-5 vạn tấn vào cảng mà không cần nạo vét. Trên đất liền có diện
tích khá
rộng (trên 400 ha) thuận lợi cho việc xây dựng khu công nghiệp gắn với
cảng biển
nước sâu.
Bờ biển có nhiều thắng cảnh đẹp, cùng với thềm lục địa rộng
gấp 2,6 lần diện tích đất liền tạo cho Quảng Bình có một ngư trường rộng
lớn
với trữ lượng khoảng 10 vạn tấn và phong phú về loài (1650 loài), trong
đó có
những loại quý hiếm như tôm hùm, tôm sú, mực ống, mực nang, san hô. Phía
Bắc
Quảng Bình có bãi san hô trắng với diện tích hàng chục ha, đó là nguồn
nguyên
liệu quý cho sản xuất hàng mỹ nghệ và tạo ra vùng sinh thái của hệ san
hô. Điều
đó cho phép phát triển nền kinh tế tổng hợp vùng ven biển.
Mặt nước nuôi trồng thuỷ sản: Với 5 cửa sông, Quảng Bình có
vùng mặt nước có khả năng nuôi trồng thuỷ sản khá lớn. Tổng diện tích
15.000
ha. Độ mặn ở vùng mặt nước từ cửa sông vào sâu khoảng 10-15km giao động
từ
8-30%o và độ pH từ 6,5- 8 rất thuận lợi cho nuôi tôm cua xuất khẩu. Chế
độ bán
nhật triều vùng ven biển thuận lợi cho việc cấp thoát nước cho các ao
nuôi tôm
cua.
Tài nguyên nước: Quảng Bình có hệ thống sông suối
khá lớn với mật độ 0,8 - 1,1 km/km2. Có năm sông chính là
sông Roòn,
sông Gianh, sông Lý Hoà, sông Dinh và sông Nhật Lệ. Có khoảng 160 hồ tự
nhiên
và nhân tạo với dung tích ước tính 243,3 triệu m3.
Tài nguyên khoáng sản: Quảng Bình có nhiều loại khoáng sản
như vàng, sắt, titan, pyrit, chì, kẽm... và một số khoáng sản phi kim
loại như
cao lanh, cát thạch anh, đá vôi, đá mable, đá granit... Trong đó, đá vôi
và cao
lanh có trữ lượng lớn, đủ điều kiện để phát triển công nghiệp xi măng và
vật
liệu xây dựng với quy mô lớn. Có suối nước khoáng nóng 105oC.
Trữ
lượng vàng tại Quảng Bình có khả năng để phát triển công nghiệp khai
thác và
chế tác vàng.
Dân số và lao động: Dân số Quảng Bình năm 2008 có
857.818 người. Phần lớn cư dân địa phương là người Kinh. Dân tộc ít
người thuộc
hai nhóm chính là Chứt và Bru-Vân Kiều gồm những tộc người chính là:
Khùa, Mã Liềng,
Rục, Sách, Vân Kiều, Mày, Arem, v.v... sống tập trung ở hai huyện miền
núi
Tuyên Hoá và Minh Hoá và một số xã miền Tây Bố Trạch, Quảng Ninh, Lệ
Thuỷ. Dân
cư phân bố không đều, 85,5% sống ở vùng nông thôn và 14,5% sống ở thành
thị.
Quảng Bình có nguồn lao động dồi dào với 433.618 người,
chiếm khoảng 52,26% dân số. Về chất lượng lao động, theo điều tra dân số
thời
điểm 1/4/1999 có: 10.720 người có trình độ từ cao đẳng trở lên, trong đó
4.676
cao đẳng, 6.042 đại học và trên đại học. Lực lượng lao động đã qua đào
tạo gần
33.000 người chiếm 8% số lao động.
Văn hoá và tiềm năng du lịch: Dãi đất Quảng Bình như một bức
tranh hoành tráng, có rừng, có biển với nhiều cảnh quan thiên nhiên đẹp,
thắng cảnh
nổi tiếng: đèo Ngang, đèo Lý Hoà, cửa biển Nhật Lệ, phá Hạc Hải, Cổng
Trời… và
Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng được công nhận là Di sản Thiên nhiên
thế giới.
Quảng Bình là vùng đất văn vật, có di chỉ văn hoá Bàu Tró, các di chỉ thuộc nền văn hoá Hoà Bình và Đông Sơn, nhiều di tích lịch sử như: Quảng Bình Quan, Luỹ Thầy, Rào Sen, Thành Nhà Ngo, thành quách của thời Trịnh - Nguyễn, nhiều địa danh nổi tiếng trong hai cuộc kháng chiến chống xâm lược của dân tộc như Cự Nẫm, Cảnh Dương, Cha Lo, Cổng Trời, Xuân Sơn, Long Đại, đường Hồ Chí Minh v.v... Trong quá trình lịch sử, đã hình thành nhiều làng văn hoá nổi tiếng và được truyền tụng từ đời này sang đời khác như “Bát danh hương”: “Sơn - Hà- Cảnh - Thổ- Văn- Võ- Cổ - Kim”. Nhiều danh nhân tiền bối học rộng, đỗ cao và nổi tiếng xưa và nay trên nhiều lĩnh vực quân sự, văn hoă - xã hội như Dương Văn An, Nguyễn Hữu Cảnh, Nguyễn Hàm Ninh, Hoàng Kế Viêm, Võ Nguyên Giáp...